TỔNG QUAN BỆNH LAO XƯƠNG KHỚP
Bệnh lao là một bệnh do trực khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis gây nên, là một trong số nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới, đặc biệt phổ biến trên các nước đang phát triển.
Trực khuẩn lao thường xâm nhập theo đường thở qua các giọt nước bọt và gây nên lao phổi chiếm 90% tổng số lao. Chúng có thể xâm nhập theo đường tiêu hóa gây nên lao dạ dày, lao ruột,… Khi trực khuẩn lao xâm nhập vào bộ phận khác của cơ thể sẽ gây bệnh tại đó được gọi là bệnh lao ngoài phổi. Và một trong số những dạng lao phổ biến trong lao ngoài phổi là lao xương, lao khớp
Lao xương, lao khớp là bệnh toàn thân biểu hiện tổn thương lao khu trú ở xương, khớp. Được xếp vào lao thứ phát vì thông thường trực khuẩn lao từ phổi hoặc hạch… vào máu và trực khuẩn lao tới xương, khi sinh sôi nảy nở chúng tạo thành củ lao gây hoại tử trung tâm được bao quanh bởi các tế bào biểu mô, các tế bào đơn nhân, tế bào khổng lồ.Trực khuẩn lao khu trú ở xương xốp nơi có nhiều tủy bào và tế bào võng mạc nội mô, từ đó lan vào khớp gây ra lao khớp. Vì vậy lao khớp là lao thứ phát so với lao xương.
Khi bị lao xương khớp thì cột sống là bị ảnh hưởng phổ biến nhất, tiếp đó là đầu gối và hông. Lao xương thường gặp ở các xương xốp như thân đốt sống, xương tụ cốt bàn chân, bàn tay. Còn lao khớp thường gặp ở khớp hông, khớp cổ tay cổ chân, khớp gối. Tuy nhiên các khu vực khác như xương cùng và khớp cùng chậu, xương chậu, xương sườn, xương dài, xương ức đòn, xương ức và túi hoạt dịch, xương nhỏ bàn tay, bàn chân,… bất cứ xương nào của cơ thể cũng có thể bị nhiễm lao.
Lao cơ xương thường xuất hiện sau lao sơ nhiễm 2 đến 3 năm, hoặc thấy trước lao các nội tạng và thấy sau lao các màng.

TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
Lao xương khớp rất khó chẩn đoán trong giai đoạn đầu và bệnh không gây ra đau đớn, không có bất cứ triệu chứng nào cho đến khi bệnh đã phát triển ở giai đoạn muộn.
Toàn thân: thể hiện nhiễm độc lao, cơ thể gây sút yếu, sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, ngủ kém, ăn kém, dẫn tới mệt mỏi, sút cân. Bệnh khởi phát thầm lặng, cường độ tiến triển của bệnh phụ thuộc vào độc tính của trực khuẩn lao với sức đề kháng của người bệnh. Diễn biến của người bệnh tiến triển kéo dài, phần lớn trường hợp bị lao ở một khớp.
Tại chỗ:
Đau: đau âm ỉ cả ngày, đau tăng dần về đêm, đau khi cử động khớp, đôi khi người bệnh nhầm là đau do thấp khớp chỉ khi chụp XQ mới phát hiện ra.
Hạn chế cử động khớp, khớp sưng nề, tăng nhiệt độ tại nơi trực khuẩn trú ngụ, co cứng khớp
Hình thành túi mủ lạnh
Hạch sưng ở quanh khớp hoặc gốc chi
Teo cơ
Triệu chứng Alexandre Drova dương tính, khi béo da không tách riêng da được mà béo lên cả tổ chức dưới da vì sưng nền xơ dính quánh
Hình thành bã đậu hay là hình thái viêm xuất tiết có tính phá hủy hình thành bọc mủ lạnh, ở khớp có khuynh hướng hình thành túi mủ, khi vỡ mủ ra bị rò ra ngoài tổ chức bã đậu lẫn những mảnh xương chết, rò lao kéo dài và thường có bội nhiễm. Bệnh khởi phát cấp tính gây nên sốt cao, cử động rất đau, khớp viêm mạch, hạch khu vực sưng to, đau.
Hình thái viêm thể hạt hay hình thái viêm tăng sinh màng hoạt dịch, bệnh khởi phát kín đáo, khớp đau nhẹ và thường có tràn dịch với từng đợt teo cơ mức độ vừa và hay gặp ở trẻ nhỏ.
CẬN LÂM SÀNG:
Số lượng bạch cầu bình thường hoặc tăng.Tỷ lệ bạch cầu lympho thường tăng trên 30%,có thể thiếu máu.Tốc độ máu lắng tăng.
Xét nghiệm dịch khớp: tế bào, sinh hóa, PCR với BK.Xét nghiệm dịch khớp có thể phát hiện bạch cầu tăng cao từ 10.000 – 20.000 tế bào/mm 3, protein dịch khớp > 3,5g/dl.
Soi tim vi khuẩn lao trực tiếp. Nhuộm tìm vi khuẩn kháng cồn kháng toan trong dịch khớp hay màng hoạt dịch khớp chỉ dương tính 10 – 20%.
Nuôi cấy trên môi trường Loevveinstein – Jesen từ dịch khớp dương tính 80% và từ màng hoạt dịch khớp dương tính tới 94% . Thời gian mọc vi khuẩn sau một hai tháng.Phương pháp có độ nhạy và độ đặc hiệu cao (độ nhạy 74 – 91% và độ đặc hiệu 95 -100% ).
Sinh thiết màng hoạt dịch bằng kim hay phẫu thuật cho thấy tổn thương lao điển hình (nang lao, bã đậu, BK). Đây là phương pháp chẩn đoán rất có giá trị. Đặc biệt nội soi khớp và sinh thiết màng hoạt dịch dưới nội soi cho phép đánh giá trực tiếp tổn thương và sinh thiết màng hoạt dịch đúng vị trí tổn thương.
Sinh thiết hạch gốc chi của khớp tổn thương đôi khi cũng có thề thấy tổn thương lao.
Phản ứng Mantoux chỉ dương tính trong 90% số bệnh nhân. Xét nghiệm này hỗ trợ chẩn đoán, giúp định hướng các thăm dò khác để chẩn đoán.
ELISA huyết thanh: cho phép xác định kháng thể kháng vi khuẩn lao trong huyết thanh bệnh nhân.
Cần phát hiện bằng chứng nhiễm lao tại các cơ quan khác: chụp phổi, tìm BK trong đờm, trong dịch rửa phế quản, hạch đồ hoặc sinh thiết hạch…). AFB đờm dương tính trong trường hợp lao phổi phối hợp.
Xquang khớp: xương mất chất vôi,vỏ xương mỏng,xương xốp thừa.Khe khớp hẹp không đều,nham nhở.Hình ảnh ổ lao.Trật khớp,dính khớp nếu tổn thương nặng kéo dài không được điều trị.

Trường hợp lao khớp khuỷu biểu hiện mất vôi đầu xương quanh khớp trên Xquang thường quy.
Siêu âm khớp: phát hiện dịch khớp,dày màng hoạt dịch,ổ áp xe mô mềm,đường dò.
Cộng hường từ khớp: ăn mòn,phù tuỷ xương.Màng hoạt dịch dày đều,ngấm thuốc mạnh,có thể có ít dịch khớp.Cộng hưởng từ đánh giá rất tốt tổn thương phần mềm quanh khớp.
ĐIỀU TRỊ
Nghỉ ngơi, ăn uống đầy đủ chất, nhiều vitamin, nơi ở thoáng mát nhiều ánh sáng, vệ sinh sạch sẽ.
Dùng thuốc kháng sinh: Do trực khuẩn lao ngày càng kháng lại kháng sinh nên người ta thường điều trị kết hợp giữa kháng sinh và hóa trị liệu. Trong những năm 80 của thế kỷ 20, WHO đã đưa ra phác đồ điều trị ngắn ngày có giám sát, gọi tắt là DOTS, kết hợp với 5 loại thuốc theo công thức 2SHRZ/6HE với bệnh lao mới.
Bất động chi thể: làm giảm đau, giảm co cơ, phòng biến dạng, giúp ổ lao chóng ổn định
Chỉ định điều trị ngoại khoa.
Tổn thương lao phá hủy đầu xương nhiều gây bán trật khớp hay trật khớp. Tổn thương xương lan toả.
Các phương pháp phẫu thuật
Giải phóng ổ áp xe (nạo ổ áp xe, dẫn lưu ổ áp xe, nạo ổ khớp). Mờ rộng lỗ rò, đặt ống thông bơm thuốc kháng sinh.
Phẫu thuật tạo hình khớp.
PHÒNG BỆNH
Tránh lây nhiễm: cách ly người bệnh, tránh lây nhiễm. Phát hiện sớm tình trạng nhiễm lao ở những người trong gia đình có bệnh nhân lao để có biện pháp điều trị và quản lý hợp lý, tránh lây lan ra cộng đồng.
Đối với người đã bị lao: cần tuân thủ nguyên tắc điều trị lao nhằm tránh tái phát gây lao kháng thuốc. Phối hợp với chế độ ăn uống nhiều chất đạm, vitamin, các thuốc tăng cường sức khoẻ, nghỉ ngơi hợp lý. Cần thường xuyên kiểm tra tình trạng toàn thân, tổn thương tại chỗ, sự tiến triển của bệnh và các tai biến của thuốc.